THẾ GIỚI KHÔNG PHẲNG
THẾ GIỚI KHÔNG PHẲNG

10 thay đổi căn bản của thế giới

Hiển nhiên, khái niệm "thế giới phẳng" đã gây nên nhiều tranh luận cả trong và ngoài giới kinh tế. Đầu tháng 9.2008, David Smick in sách "Thế giới cong: Những hiểm nguy bị che giấu của nền kinh tế toàn cầu" (The World is Curved: Hidden Dangers to the Global Economy, nhà xuất bản Portfolio). Cuốn sách này đã lôi cuốn ngay sự chú ý của người đọc, khi cuộc khủng hoảng thị trường chứng khoán và ngân hàng bắt đầu.

Smick phân tích nguồn gốc của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và những đề nghị sửa đổi. Gần đây hơn, tạp chí nghiên cứu "Cambridge Journal of Regions, Economy and Society" đã dành riêng một số cho chủ đề "Thế giới không phẳng: Đưa toàn cầu hoá về đúng vị trí".

Tuy tạp chí này công bố trong tháng 11.2008, những bài viết được biên tập từ 2007. Vì vậy có thể nói cụm từ "thế giới cong" đã có trước khi sách của Smick ra đời. Đây là những tài liệu cần đọc để hiểu thêm về những gì đang và sẽ xảy ra trong nền kinh tế và tài chính thế giới. Trong bài viết ngắn này, chúng tôi không có tham vọng đi sâu vào những phân tích và tranh luận; mà chỉ ghi lại vài điểm theo cách hiểu riêng.

Theo Friedman, trái đất trở thành phẳng vì khoảng 10 thay đổi cơ cấu, gọi là những tác nhân làm phẳng (flatteners) như sự sụp đổ của tường Berlin, hình thành mạng Internet (www), thương mại phát triển với các công ty mang tính đa quốc gia ngày càng lớn, cùng các hình thức cộng tác mới trong đó mọi người ở mọi quốc gia được tham gia, (như chuẩn hoá các phần mềm, tải thông tin lên mạng, thuê làm bên ngoài, chuyển sản xuất ra nước ngoài, chuỗi cung, thuê bên ngoài làm...), v.v... Những sản phẩm trực tiếp của cuộc các mạng công nghệ thông tin này đang góp phần làm phẳng thế giới một cách liên tục và đều đặn. Và trong thế giới phẳng đó, khả năng của mỗi cá nhân được phát triển và đời sống cải thiện v.v...

Nền kinh tế trong "thế giới phẳng"

Những luận chứng của Friedman đưa ra không sai nhưng không đủ. Kinh tế toàn cầu phát triển trong cùng một lúc theo hai chiều ngược nhau, vừa toàn cầu hoá và vừa địa phương hoá. Hàng hoá sản xuất thường được nhanh chóng phân chia thành hai loại: Hàng cấp thấp và hàng có giá trị gia tăng cao.
 
Khuynh hướng chung của nền kinh tế hiện nay, trong sản xuất và trong phân phối hàng hoá, là tính toàn cầu hoá tăng không những cho sản phẩm mà còn cho tài nguyên của hàng chất lượng thấp, đồng thời với sự địa phương hoá càng sâu về tài nguyên cho hàng chất lượng cao.

Trong khi hàng cấp thấp có thể sản xuất ở bất cứ nơi đâu và bán ra nhiều nơi, hàng chất lượng cao chỉ có thể sản xuất ở những nơi hội đủ một số điều kiện nhất định, thường tập trung chung quanh các thành phố lớn có phương tiện giao thông, di chuyển và truyền thông tốt,... nói chung những điều kiện làm giảm giá thành hàng hoá.
 

Thị trường chứng khoán phố Wall.
 

Địa lý kinh tế cho thấy sự địa phương hoá cũng là một hệ luận tất yếu trong một nền kinh tế tri thức, dựa trên nhân lực có chuyên môn và kiến thức cao trong các ngành kỹ thuật mũi nhọn.

Kết hợp của hai khuynh hướng phẳng và nhọn tất yếu dẫn đến các vũng lồi và lõm trên mặt đất (bằng toán học có thể chứng minh dễ dàng sự hình thành các đường cong). Nôm na mà nói, các mặt hàng chất lượng cao chỉ có thể sản xuất ở một số vùng nhất định (các khu công nghệ cao ở các nước).

Sự khác biệt giữa những trung tâm sản xuất lớn và nhỏ sẽ nhanh chóng dẫn đến sự phân hoá về giá đất, công suất, mức lương và thu nhập. Và sự toàn cầu hoá trong phân phối hàng hoá dẫn đến sự chênh lệch giàu nghèo, giữa các vùng, địa phương ngay trong một nước.

Các trung tâm lớn sẽ được hưởng nhiều thuận lợi hơn trong mạng lưới thương mại. Thêm vào đó, sự phân hoá về tiền công và giá cả (tiền công giảm cho hàng chất lượng thấp, và tăng cho hàng cao cấp), sẽ làm cho bề mặt kinh tế ngày càng lồi lõm.

Việc thành lập các khối, liên minh kinh tế giữa các nước (như Liên hiệp Châu Âu , ASEAN, hay NAFTA), cùng với việc dựng nên các hàng rào quan thuế nhằm bảo đảm những thuận lợi về thuế xuất/nhập cho các nước thành viên... tất yếu tạo nên nhưng lồi lõm trên bề mặt thương mại.

Khi bảo vệ các luận điểm của mình, Friedman thường đem vai trò của các nước Châu Á đang phát triển mạnh để chứng minh. Những thay đổi sâu rộng ở những nước Châu Á là hậu quả hơn là nguyên nhân của hiện tượng toàn cầu hoá.
 
Hiện nay, kinh tế Châu Á đang đóng góp khoảng 35% vào tổng sản lượng (GDP) thế giới. Nhưng nhìn chung, nền sản xuất vẫn còn dựa nhiều vào việc chuyển sản xuất ra nước ngoài (offshoring) của các công ty đa quốc gia.

Các nước Châu Á vẫn còn làm gia công, tái xuất khẩu những hàng hoá (hoàn chỉnh hay bán hoàn chỉnh) của các công ty đa quốc gia Mỹ hay Tây Âu. Dù việc gia công vẫn đóng góp vào phát triển, nhưng các trung tâm thực sự kiểm soát hệ thống sản xuất vẫn nằm ở ngoài. Từ đó, độ lồi lõm trên bề mặt kiến thức/tri thức vẫn tồn tại.

Điểm cuối cùng trong nhận định của Friedman là toàn cầu hoá sẽ cho phép việc giải phóng cá nhân. Điều này chỉ đúng cho một số nhỏ cá nhân có kiến thức và khả năng nghề nghiệp cao, có thể di chuyển dễ dàng giữa các vùng sản xuất cao. Đại đa số còn lại sẽ là nhân công rẻ, sồng chen chúc trong các khu nhà ổ chuột. Khi các tập đoàn kinh tế đa quốc gia ngày càng độc quyền trong mọi lãnh vực, sự tự do, phát triển và mức thu nhập của từng cá nhân cũng tùy thuộc vào độ lồi lõm của hệ thống kinh tế này hơn là sự phẳng lặng của nó.

Theo Lao Động